Sách đỏ hay Sách đỏ IUCN là gì?

sach do

Voi và tê tê là những loài trong sách đỏ Việt Nam. Hãy cùng Ngưng Tạo Nghiệp tìm hiểu về loại tài liệu này nhé

1. Chính xác thì Sách Đỏ là gì?

Sách Đỏ là một tài liệu công cộng được sử dụng để ghi lại các loài thực vật, động vật và nấm nguy cấp và quý hiếm, cũng như một số loài phụ địa phương, được tìm thấy trong một khu vực nhất định.

Sách Đỏ hỗ trợ chúng tôi thu thập dữ liệu toàn diện để nghiên cứu, tìm hiểu và giám sát các sáng kiến ​​liên quan đến các loài động vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng và hệ sinh thái của chúng.

Mục đích của cuốn sách này là xác định và bảo vệ các loài đang trên đà tuyệt chủng.

Tổng quan về Lịch sử Sách Đỏ

Sách Dữ liệu Đỏ của Liên bang Nga, hoặc RDBRF, là tên ban đầu của cuốn sách này, có nguồn gốc từ Nga. Cuốn sách dựa trên nghiên cứu của các nhà khoa học Nga được thực hiện từ năm 1961 đến năm 1964. Do đó, nó còn được gọi là Sách Đỏ của Nga.

Sách Đỏ đang được duy trì bởi Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. IUCN là cơ quan kiểm kê toàn diện nhất thế giới về tình trạng bảo tồn toàn cầu của các loài sinh vật. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) được thành lập vào năm 1948 với mục tiêu biên soạn một danh sách toàn diện về tất cả các loài đã biết.

Danh sách đầy đủ các loài bị đe dọa có thể được tìm thấy trong Sách Đỏ. Mục tiêu chính của tài liệu này là cung cấp thông tin toàn diện cho việc nghiên cứu và phân tích loài.

Sách Dữ liệu Đỏ là một tập hợp các tờ thông tin được mã hóa bằng màu sắc được sắp xếp theo nguy cơ tuyệt chủng đối với nhiều loài và phân loài.

  • Màu đen biểu thị các loài đã được chứng minh là đã tuyệt chủng.
  • Màu đỏ biểu thị các loài có nguy cơ tuyệt chủng.
  • Hổ phách được sử dụng để xác định các loài có tình trạng được coi là dễ bị tổn thương.
  • Các loài quý hiếm có màu trắng.
  • Màu xanh lá cây cho các loài đã từng có nguy cơ tuyệt chủng nhưng đã bắt đầu phục hồi số lượng.
  • Màu xám được sử dụng để đại diện cho các loài được chỉ định là dễ vỡ, nguy cấp hoặc quý hiếm, nhưng không có đủ thông tin để phân loại chúng một cách đầy đủ.

2. Phân loại sách đỏ

Sách đỏ theo bậc các tiêu chí về mức độ đe dọa tuyệt chủng

Sách Đỏ sắp xếp các loài thành các loài theo bậc các tiêu chí về mức độ đe dọa tuyệt chủng như tốc độ suy thoái (rate of decline), kích thước quần thể (population size), phạm vi phân bố (area of geographic distribution), và mức độ phân tách quần thể và khu phân bố (degree of population and distribution fragmentation).

Tuyệt chủng

Tuyệt chủng (tiếng Anh: Extinct, viết tắt EX) là một trạng thái bảo tồn của sinh vật được quy định trong Sách đỏ IUCN. Một loài hoặc dưới loài bị coi là tuyệt chủng khi có những bằng chứng chắc chắn rằng cá thể cuối cùng đã chết.

Tuyệt chủng trong tự nhiên

Tuyệt chủng trong tự nhiên (tiếng Anh: Extinct in the Wild, viết tắt EW) là một trạng thái bảo tồn của sinh vật. Một loài hoặc dưới loài bị coi là tuyệt chủng trong tự nhiên khi các cuộc khảo sát kỹ lưỡng ở sinh cảnh đã biết và hoặc sinh cảnh dự đoán, vào những thời gian thích hợp (theo ngày, mùa năm) xuyên suốt vùng phân bố lịch sử của loài đều không ghi nhận được cá thể nào. Các khảo sát nên vượt khung thời gian thích hợp cho vòng sống và dạng sống của đơn vị phân loại đó. Các cá thể của loài này chỉ còn được tìm thấy với số lượng rất ít trong sinh cảnh nhân tạo và phụ thuộc hoàn toàn vào chăm sóc của con người.

Cực kỳ nguy cấp

Cực kỳ nguy cấp (tiếng Anh: Critically Endangered, viết tắt CR) là một trạng thái bảo tồn của sinh vật. Một loài hoặc nòi được coi là cực kỳ nguy cấp khi nó phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao trong một tương lai rất gần, khi quần thể loài suy giảm đến 80% hoặc diện tích phân bố chỉ còn trên khoảng 100 km².

Nguy cấp

Nguy cấp (tiếng Anh: Endangered, viết tắt EN) là một trạng thái bảo tồn của sinh vật. Một loài bị coi là Nguy cấp khi nó phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao trong một tương lai rất gần nhưng kém hơn mức cực kỳ nguy cấp.Quần thể bị suy giảm 50% hoặc diện tích phân bố còn 5000 km^2

Sắp nguy cấp

Sắp nguy cấp (tiếng Anh: Vulnerable, viết tắt VU) là một trạng thái bảo tồn của sinh vật. Một loài hoặc nòi bị đánh giá là Sắp nguy cấp khi nó không nằm trong 2 bậc CR và Nguy cấp (EN) nhưng phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên cao trong một tương lai không xa. Quần thể của chúng bị suy giảm 20% hoặc diện tích phân bố chỉ còn khoảng 20000 km^2.

Sắp bị đe dọa

Sắp bị đe dọa (tiếng Anh: Near-threatened, viết tắt NT) là một trạng thái bảo tồn của sinh vật. Một loài hoặc nòi bị đánh giá là Sắp bị đe dọa (NT) khi nó sắp phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên cao trong một tương lai không xa.

3. Sách đỏ Việt Nam

Nguồn https://vi.wikipedia.org/wiki

Sách đỏ Việt Nam là danh sách các loài động vật, thực vật ở Việt Nam thuộc loại quý hiếm, đang bị giảm sút số lượng hoặc có nguy cơ tuyệt chủng. Đây là căn cứ khoa học quan trọng để Nhà nước ban hành những Nghị định và Chỉ thị về việc quản lý bảo vệ và những biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển những loài động thực vật hoang dã ở Việt Nam.

Dự án Sách đỏ Việt Nam được công bố lần đầu tiên năm 1992. Đây là công trình do Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam phối hợp với Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) thực hiện với sự tài trợ của Quỹ SIDA (Thụy Điển). Các tiêu chuẩn sử dụng trong Sách đỏ Việt Nam được xây dựng trên nền các tiêu chuẩn của Sách đỏ IUCN.

Sách đỏ Việt Nam lần đầu tiên phần động vật được xuất bản năm 1992 với 365 loài nằm trong danh mục, phần thực vật được xuất bản năm 1996 với 356 loài nằm trong danh mục.

Kết quả thực hiện Sách đỏ Việt Nam 2004 cho thấy tổng số loài động thực vật hoang dã đang bị đe dọa đã lên đến 857 loài, gồm 407 loài động vật và 450 loài thực vật, tức số loài đang bị đe dọa đã tăng đáng kể. Trong phần động vật, nếu như mức độ bị đe dọa cao nhất trong Sách đỏ Việt Nam 1992 chỉ ở hạng Nguy cấp thì năm 2004 đã có 6 loài bị coi là tuyệt chủng trên lãnh thổ Việt Nam. Số loài ở mức Nguy cấp là 149 loài, tăng rất nhiều so với 71 loài trong Sách đỏ Việt Nam 1992. Có 46 loài được xếp ở hạng Rất nguy cấp.[1]

Phiên bản mới nhất hiện nay là Sách đỏ Việt Nam 2007, được công bố vào ngày 26 tháng 6 năm 2008 [2], theo số liệu này hiện nay tại Việt Nam có 882 loài (418 loài động vật và 464 loại thực vật) đang bị đe dọa ngoài thiên nhiên, tăng 167 loài so với thời điểm năm 1992. Trong đó có 116 loài động vật được coi là “rất nguy cấp” và 45 loài thực vật “rất nguy cấp” (trong số 196 loài thực vật đang “nguy cấp”). Có 9 loài động vật trước kia chỉ nằm trong tình trạng de dọa nhưng nay xem như đã tuyệt chủng là tê giác 2 sừngbò xámheo vòicầy rái cácá chép gốccá chình Nhậtcá lợ thân thấpcá sấu hoa càhươu sao và hoa lan hài [3].

Ngoài Sách đỏ Việt Nam 2007, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam còn hoàn thành việc soạn thảo Danh lục đỏ Việt Nam 2007.

 

>> Vì nhiều nguyên nhân khiến các loài động vật phải vào sách này:

Author: NgungTaoNghiep

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *